Nhận biết bệnh Tụ Huyết Trùng ở Gà và cách chữa

Bệnh tụ huyết trùng ở gà là một bệnh lây truyền do vi khuẩn gây ra. Bệnh có thể gây ảnh hưởng nặng tới kinh tế và bùng phát thành dịch. Bệnh có thể từ nhiễm trùng huyết cấp tính (nhiễm độc máu) đến nhiễm trùng khu trú và mãn tính.

Trong các giống gà thì gà ta, chim thú gia cầm là những loài rất dễ mắc bệnh. Gà tây mẫn cảm hơn gà ta, gà già dễ mắc bệnh hơn gà non. Một số giống gà còn mẫn cảm hơn các giống gà khác. Bệnh hiếm gặp ở gà lứa tuổi gà thịt.

Có 16 kiểu huyết thanh của vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng gà. Mỗi kiểu có khả năng gây bệnh tụ huyết trùng khác nhau.

Tầm ảnh hưởng bệnh tới kinh tế

Bệnh tụ huyết trùng ở gà là bệnh có khả năng lây lan thành dịch cao. Vì thế bệnh có thể gây ảnh hưởng lớn tới kinh tế người chăn nuôi. Mặc dù ít khi gặp ở gà thịt nhưng nếu gà mắc bệnh sẽ cho sản lượng thịt thấp hơn.

Các ảnh hưởng tới kinh tế khi đàn gà mắc bệnh tụ huyết trùng:

  • Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao.
  • Giảm sản lượng trứng.
  • Cho sản lượng thịt thấp.
  • Tăng chi phí thuốc men.

Vật chủ lây bệnh

Dưới đây là các vật chủ có thể tìm thấy vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở gà

  • Tụ huyết trung ở gà là bệnh của nhiều loài gia cầm, bao gồm gà, gà tây, ngỗng, vịt, chim cút, các loài chim nuôi và chim hoang dã.
  • Hầu hết các vụ bùng phát dịch tụ huyết trùng ở gà xảy ra ở những đàn gà trưởng thành hoặc bán trưởng thành, mặc dù vẫn có những ngoại lệ.
  • Bệnh thường xảy ra ở gà tây.
  • Bệnh cũng thường xuyên gặp ở thủy cầm như ngan, vịt, ngỗng,…. Ngỗng rất dễ mắc bệnh.

Quá trình lây truyền

Vi khuẩn tụ huyết trùng lây lan qua đường truyền ngang khi tiếp xúc trực tiếp với gà bệnh. Hoặc gián tiếp với gà bị bệnh.

Các phương thức bệnh lan truyền chính bao gồm:

Tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị nhiễm bệnh : Dịch tiết từ gia cầm bị nhiễm bệnh, cần tiếp xúc gần gũi với nhau. Vi khuẩn tụ huyết trùng ở gà có thể xâm nhập qua màng nhầy. Bao gồm miệng, mũi và kết mạc mắt. Cũng như qua các vết thương trên da của con gà đang mắc bệnh.

Nuốt phải: Con đường phổ biến nhất, liên quan đến môi trường, thức ăn hoặc nước với phân từ vật chủ bị nhiễm bệnh.

Nên xem:   Cách nuôi bọ cạp, bọ cạp ăn gì? Đẻ con hay đẻ trứng?

Từ các dụng cụ chăn nuôi: Ô nhiễm thiết bị, quần áo, lồng, máng ăn, v.v.

Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng có thể tồn tại trong môi trường nhiều tuần sau khi bùng phát. Những con gà mang mầm bệnh mãn tính đóng một vai trò quan trọng trong sự lây lan của bệnh này.

Dịch tụ huyết trùng dễ dàng bùng phát khi bệnh xuất hiện ở đàn gà với mật độ cao. Gà dễ mắc bệnh hơn vào thời điểm căng thẳng. Và dịch tụ huyết trùng thường bùng phát vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh và ẩm ướt.

Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự bùng phát dịch bệnh bao gồm tuổi, giới tính và tình trạng miễn dịch của đàn gà.

Tổn thương khi mổ gà

Bệnh có thể phát hiện khi chúng ta mổ gà để kiểm tra. Việc này thường được thực hiện đối với các trang trại quy mô lớn. Những trang trại có quy trình chăn nuôi kiểu mẫu. Từ đó có thể phát hiện sớm được bệnh, chăm sóc điều trị cho đàn gà kịp thời nhất.

Dạng cấp tính

  • Tổn thương cấp tính phát triển do đông máu nội mạch lan tỏa. Thông thường có các chấm xuất huyết và chấm xuất huyết ở một vài vị trí (tim, dưới niêm mạc, trong niêm mạc, trên mề, hoặc ở mỡ bụng).
  • Tăng sung huyết của ruột trên, đặc biệt là tại khu vực tá tràng.
  • Ở gà đẻ và gà mái giống, thường thấy noãn hoàng tự do trong ổ phúc mạc, viêm vòi trứng cấp tính và viêm phúc mạc lan tỏa cấp tính.
  • Gan to và nhiều ổ hoại tử nhỏ.

Dạng mãn tính

  • Có một tổn thương viêm khu trú liên quan đến khớp, bao gân, mụn nước, túi kết mạc, xoang ổ mắt, tuabin mũi, tai giữa hoặc xương sọ ở đáy hộp sọ,
  • Sự đông đặc phổi là một phát hiện phổ biến ở gà tây bị ảnh hưởng, biến thành vùng hoại tử theo thời gian.

Các giai đoạn bệnh

Các biểu hiện ở những con gà khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Các giai đoạn bệnh của tụ huyết trùng ở gà có thể kéo dài từ 3 đến 4 tuần. Và đôi khi có thể tồn tại trong nhiều năm, ngay cả sau khi được điều trị.

Dạng cấp tính

  • Dạng này xảy ra do gà bị nhiễm loại khuẩn lạc tụ huyết trùng.
  • Biểu hiện bệnh dạng này đó là một số con gà chết đột ngột xảy ra trong đàn. Tỷ lệ tử vong thường tăng nhanh. Gà đẻ có thể bị phát hiện chết trên ổ đẻ trứng.
  • Có những trường hợp có thể gà đang đi lại thì ngã lăn ra chết do kiệt sức. Tình trạng này làm bà con dễ bị nhầm lẫn với gà bị ngộ độc.
  • Những con gà bị bệnh có biểu hiện chán ăn, trầm cảm, mào và lông tím tái.
  • Có hiện tượng hô hấp không bình thường, thở rít và chảy nước mũi nhầy.
  • Có tiết dịch ở miệng (chảy nước miếng), và tiêu chảy nước trắng hoặc nhầy xanh.
  • Diễn biến của bệnh ngắn và thường dẫn đến tử vong.
  • Những con gà bị bệnh có thể chết trong một thời gian ngắn. Hoặc bị nhiễm bệnh mãn tính.
Nên xem:   Kỹ thuật nuôi Chim Cút để lấy trứng và lấy thịt cho thu nhập cao

Dạng mãn tính

  • Bệnh phổ biến nhất ở gà và thường xảy ra sau giai đoạn cấp tính hoặc do nhiễm các loại khuẩn lạc màu xanh hoặc xám.
  • Những con bị bệnh mạn tính thường có biểu hiện sưng phù nề.
  • Viêm khớp, sưng khớp, bàn chân hoặc bao gân.
  • Viêm bao hoạt dịch quanh hậu môn, có thể gây nhầm lẫn với nhiễm trùng Mycoplasma.
  • Dịch tiết có thể tích tụ trong túi kết mạc hoặc xoang đáy mắt.
  • Áp-xe xoang dưới ổ mắt.
  • Dạng thần kinh; vẹo cổ do viêm tai giữa thường xảy ra ở gà tây mắc bệnh tụ huyết trùng mãn tính.
  • Đối với gà đẻ trứng, bà con thường thấy sản lượng trứng gà đẻ giảm dần. Tăng tỷ lệ chết sau khi xử lý gà mái trong quá trình thụ tinh.

Biểu hiện ở gà mắc bệnh

Bệnh tụ huyết trùng gà đã có từ lâu. Đây là bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất của gia cầm. Có rất nhiều kinh nghiệm từ xưa để bà con có thể nhận biết được đàn gà đang mắc bệnh.

Các đợt bùng phát tụ huyết trùng gà đơn lẻ có thể giết chết hàng nghìn con gà. Và các đợt bùng phát có thể xảy ra quanh năm và gần như hàng năm ở một số vùng.

Chẩn đoán

Bà con cần nghĩ ngay đến bệnh tụ huyết trùng ở gà khi bất kỳ con gà nào có biểu hiện lâm sàng dưới đây:

Hôn mê

Sốt

Giảm cảm giác thèm ăn

Lông xù

Gà bị tiêu chảy

Chảy dịch nhầy từ miệng

Tăng tốc độ thở

Sưng phù nề, xoang, khớp, xương ức, tai hoặc bàn chân

Sự què quặt

Đầu và mào sẫm màu, tím tái (tím tái)

Cổ nhăn (torticollis)

Trên đây là các biểu hiện đặc trưng nhất của bệnh tụ huyết trùng ở gà. Bà con cần theo dõi sát sao đàn gà của mình. Từ đó kịp thời nhận biết bệnh để điều trị kịp thời. Hạn chế được tổn thất về kinh tế cho trang trại của mình.

Điều trị hỗ trợ

Đối với gà bị bênh, bà con cần làm ngay các cách dưới đây:

Nhốt riêng biệt các con gà hoặc tách đàn gà có dấu hiệu bị bệnh ở một nơi. Đồng thời bà con cần cung cấp cho chúng đầy đủ thức ăn và nước uống.

Bà con cần hạn chế căng thẳng trong đàn chưa mắc bệnh và cả đàn gà mắc bệnh.

Liên hệ với thú y nếu có dấu hiệu dịch lan rộng và nhanh.

Bà con cần cung cấp thêm cho đàn gà các thực phẩm bổ sung sức đề kháng. Ví dụ như vitamin, điện giải,…

Không sử dụng thuốc đã hết hạn. Vì thuốc không chỉ không có tác dụng. Mà có thể còn gây hại cho đàn gà của bà con. Không cho uống cùng lúc với sản phẩm, thức ăn có chứa Al, Ca, Mg, Fe. Vì sẽ làm giảm hoặc thay đổi khả năng hấp thu của thuốc.

Thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị các trường hợp riêng lẻ của bệnh dịch tụ huyết trùng ở gà. Nhưng không khả thi để điều trị các đàn gà lớn khi dịch bùng phát.

Nên xem:   Gà Ri Ninh Hòa – đặc sản ngon, nguồn gen quý hiếm của tỉnh Khánh Hòa

Trong khi thuốc kháng sinh làm giảm tỷ lệ tử vong, một khi điều trị ngừng, gà có thể tiếp tục chết. Có nghĩa là thuốc kháng sinh không loại bỏ được bệnh tụ huyết trùng hoàn toàn khỏi đàn của bà con. 

Khi phát hiện có con gà mắc bệnh, bà con cần cho chúng dùng thuốc kháng sinh ngay. Các loại thuốc bà con có thể chọn trong số dưới đây:

Oxytetracycline 5 mg / kg SC, IM q12-24h hoặc 2500 mg / L nước uống và 2500 mg / kg thức ăn.

Norfloxacin 8-10 mg / kg PO q24h hoặc 100 mg / L nước uống trong 5 ngày. Thuốc kháng sinh này theo khuyến cáo không nên sử dụng trong các đàn gà thịt thương phẩm. Vì thuốc tồn tại bán thải khá lâu. Nhiều nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.

Tylosin 15-30 mg / kg IM q6-12 giờ

Sulfamethazine 0,5 đến 1% trong thức ăn hoặc 0,1% trong nước trong ít nhất 5 ngày. Sau thời gian điều trị, bệnh nhiễm trùng có thể tái phát.

Streptomycin 20-50 mg / kg IM mỗi 12-24 giờ. Thuốc có thể gây độc cho thận và gan của gà.

Penicillin 50.000 IU / kg

Phòng ngừa bệnh tụ huyết trùng ở gà

Sử dụng vắc xin tụ huyết trùng cho đàn gà. Bà con có thể sử dụng vắc xin dạng tiêm hoặc dạng hòa vào nước cho uống.

Ngăn các loài gặm nhấm, chim hoang dã và các động vật khác tiếp cận hoặc ị phân của chúng trong chuồng và các khu vực ngoài trời.

Các nỗ lực quản lý đối với bệnh dịch tụ huyết trùng ở gà tập trung vào việc hạn chế sự lây truyền khi bùng phát. Bởi vì căn bệnh này dễ lây truyền nhất khi vào những thời điểm đông đúc. Các khu vực nuôi gà đông có thể được khảo sát thường xuyên hơn để đảm bảo phát hiện sớm các ổ dịch bệnh.

Khi phát hiện ổ dịch, xác gà bệnh phải được thu gom và xử lý nhanh chóng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Mặc dù bệnh dịch tụ huyết trùng ở gà không được coi là một bệnh có nguy cơ cao đối với con người. Nhưng những người xử lý thịt nên đeo găng tay, rửa tay kỹ lưỡng. Và làm việc ngoài trời hoặc những nơi thông thoáng.

Trên đây là những điều cần biết để phát hiện bệnh tụ huyết trùng ở gà. Từ đó bà con có hướng xử trí. Cũng như biết phòng bệnh hiệu quả. Chúc bà con thành công!

Theo: Băng Giá

Bài viết liên quan

Thêm bình luận