Vai trò của rừng trong xoá đói giảm nghèo

Đời sống của nhân dân phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hoá và dịch vụ môi trường từ rừng tự nhiên. Ngay cả khi người dân bị mất rừng thì họ cũng vẫn có những lợi ích lớn thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp.

Trên cơ sở đó, Suderlin nhận định: “Hiện nay Chính phủ rất quan tâm đến việc XĐGN và phát triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển rừng có vai trò hữu ích đến đâu đối với công cuộc XĐGN; Công cuộc XĐGN có mối liên quan gì đến mục tiêu trồng 5 triệu ha rừng thì chúng ta vẫn chưa giải thích được.” Với những tài liệu nghiên cứu 2 năm qua của CIFOR tại Việt Nam, tổ chức này cho rằng: Hiện nay, rất nhiều người nghèo nhất trong số những người nghèo ở Việt Nam đang sống gần rừng. Vì vậy để thực hiện được công cuộc XĐGN cần phải quan tâm thích đáng đến tài nguyên rừng. Ngược lại, một chính sách chặt chẽ của Nhà nước về rừng không thể không chú trọng đến ý nghĩa và tác động của chủ trương giảm nghèo. Việc giảm nghèo ở nông thôn quy mô lớn phải có kế hoạch trồng rừng ở quy mô tương đương.

Có thể bạn cũng quan tâm tới những bài viết


Theo nhận định của phần đông các nhà khoa học trong và ngoài nước, từ trước đến nay việc chuyển đổi đất rừng sang sản xuất nông nghiệp chưa được coi là một trong những đường lối chính trong công cuộc XĐGN dựa vào rừng. TS Huỳnh Thu Ba, Trường ĐH Lâm nghiệp và Môi trường, ĐH Tổng hợp Yale (Mỹ) cho rằng, giảm độ che phủ rừng trên cơ sở lâu dài hay tạm thời đều nhằm chuyển đổi đất rừng để mở rộng sản xuất nông nghiệp hay chăn nuôi, đồng thời nó còn tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận các sản phẩm gỗ.

Đối với các nước đang phát triển, giá trị thương mại từ gỗ là hàng tỷ đôla. Năm qua, Việt Nam đã thu 1,55 tỷ USD từ xuất khẩu gỗ. Nhìn vào con số này chúng ta tự hỏi, tại sao giảm nghèo lại không được đầu tư nhiều hơn từ nguồn lợi lớn này, trong khi các doanh nghiệp đang rất “khát” nguyên liệu? Nguyên nhân của hạn chế này được lý giải là do người nghèo không có đủ khả năng đáp ứng trước một số chính sách, quyền sử dụng đất… quy định bất lợi cho người nghèo. Trong khi đó, những mô hình kinh doanh gỗ nhỏ đã hình thành tại các địa phương và có nhiều triển vọng thì lại bị hạn chế bởi hệ thống hỗ trợ cho công tác tổ chức. Còn các lâm sản ngoài gỗ thì sao? Phần đông ý kiến tích cực thì cho rằng lâm sản ngoài gỗ sẽ giúp người nghèo đối phó với những giai đoạn thiếu thốn…

TS Hoàng Chí Động, Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH&ĐT: Một thực tế là hiện nay xuất khẩu đồ gỗ của chúng ta đạt giá trị cao và rất có tương lai, trong khi những người dân nghèo giữ rừng lại được lợi rất ít vì hiện nay chúng ta đang khai thác nhỏ lẻ theo kiểu “nền kinh tế không chính thức” (thu nhập không được khai báo) là chủ yếu. Chúng ta phải làm sao để khai thác và sản xuất gỗ đáp ứng được mục tiêu giảm nghèo.

TS Rob Swinkels, Chuyên gia cao cấp, Ngân hàng Thế giới: Để giải quyết được đói nghèo, Việt Nam không còn cách nào tốt hơn là phải “dựa” vào rừng. Dựa bằng cách cải cách các lâm trường quốc doanh; thực hiện mô hình đồng quản lý và cùng chia lợi nhuận; làm cho đất rừng có hiệu quả hơn; tiến hành hoạt động kinh tế lâm nghiệp ngay tại khu vực đó.

CIFOR đặt câu hỏi: Giảm nghèo và trồng rừng quy mô lớn thông qua Chương trình 5 triệu ha rừng về cơ bản sẽ tương thích ở mức độ nào? Theo các nhà khoa học, thách thức chính trong mối quan hệ này chính là mô hình “được-được”. Lịch sử về độ che phủ rừng của Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, hai mô hình rõ nét nhất là mô hình “được-mất” (người dân phát đạt trên việc giảm độ che phủ rừng) và mô hình “mất-mất” (du canh du cư trong điều kiện sức ép dân số cao).

Vậy, liệu Chương trình 5 triệu ha rừng có đóng vai trò then chốt trong việc mang lại sinh kế cho người dân tại khu vực đồi núi trọc không? Theo CIFOR để cân đối giữa hai mục tiêu này thì phải cần xem xét 3 vấn đề: Khi sử dụng đất trồng rừng thì người nghèo mất đi cơ hội sử dụng đất nào? Thu nhập thực tế và các lợi ích khác mà người nghèo được nhận? Lợi ích gián tiếp thông qua việc tăng trưởng kinh tế vùng và quốc gia? Sau khi đưa ra thảo luận các vấn đề này, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng: Bộ NN&PTNT, Bộ KH&ĐT, Bộ LĐTB&XH còn quá ít sự hợp tác, cần phải tăng cường hơn sự cộng tác. Và điều quan trọng hơn nữa là phải đảm bảo trao đổi thông tin kịp thời và hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan Chính phủ tại địa phương.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tài nguyên rừng sẽ ngày càng có vai trò lớn trong công cuộc XĐGN ở nước ta. Tuy nhiên, nó lại phụ thuộc rất nhiều vào việc rừng của chúng ta phát triển như thế nào? Vì vậy, hơn bao giờ hết đòi hỏi chúng ta phải có những bước chuyển tiếp nhanh chóng từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế rừng trồng.

Một thực tế đang hiện hữu mà các nhà khoa học đang hết sức băn khoăn là, những thành tích rất “bất thường” trong việc giao đất giao rừng và khoán bảo vệ rừng. Điều này làm chúng ta phải xem xét lại năng lực các ngành, các cấp trong việc thực thi các chính sách của Chính phủ. Nếu năng lực này vẫn còn trì trệ, yếu kém thì chúng ta sẽ không thể thực hiện được hai mục tiêu lớn trên trong một thời gian nhất định.

Văn Cương (Theo Kinh tế Nông thôn)

Bài viết liên quan

Thêm bình luận