Sam Mứn trên đường đi tới

Chúng tôi về Sam Mứn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) vào một chiều tháng 4. Lúc này, công việc nhà nông đang rảnh rỗi; trên những thửa ruộng cao sản, lúa chiêm xuân đang làm đòng. Những con đường bê tông, đường nhựa xuyên qua các xóm, bản nối với quốc lộ 279, ôtô, xe máy qua lại nhộn nhịp. Chính nơi đây gần 3 thế kỷ trước, từng mét ruộng, góc núi được chúa Lự chọn làm “đại bản doanh” xây thành, đắp lũy…

So với các địa phương khác trong vùng lòng chảo Mường Thanh, đồng ruộng Sam Mứn không thuận lợi bằng, vì nằm ở cuối hệ thống Đại thủy nông Nậm Rốm. Nhưng bù lại, đồng bào các dân tộc chăm chỉ, không ngừng học hỏi, áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, chăn nuôi tiến tới xóa đói, giảm nghèo.

Để chứng minh lời nói của mình, ông Lò Văn Hặc, Chủ tịch UBND xã nêu những con số: Năm 2000, năng suất lúa bình quân 55 tạ/ha, đến năm 2006 đạt 69,2 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 7.169 tấn (chiếm 11% tổng sản lượng lương thực của huyện Điện Biên). Bình quân lương thực đạt 740kg/người/năm, tăng 90kg so với 6 năm trước.

Có thể bạn cũng quan tâm tới những bài viết

Không chỉ sản xuất 2 vụ lúa, mà bà con còn canh tác 3 vụ/năm. Năm 2005, UBND huyện giao cho xã trồng 100ha cây vụ đông (vụ 3), bằng sự năng động, sáng tạo, nông dân Sam Mứn đã canh tác được trên 200ha. Tuy mới đưa cây vụ đông vào gieo trồng 2 năm, nhưng nông dân Sam Mứn đã xem vụ 3 cũng là cây mang lại nguồn thu nhập chính.

Có được kết quả đó, Đảng bộ, chính quyền Sam Mứn đề ra chương trình hành động sát với tình hình thực tế địa phương. Đảng viên luôn là người “đứng mũi chịu sào” đưa các loại cây, con giống mới vào sản xuất với KHKT tiên tiến. Nhờ có đất đai màu mỡ nên Sam Mứn mở rộng có trên 60% diện tích giống IR64 (loại gạo thơm ngon nức tiếng cả nước), số còn lại giống bắc thơm, hương thơm, lúa lai Trung Quốc…

Ngoài cây lúa, Sam Mứn có nhiều mô hình kinh tế theo hướng trang trại: trồng trọt, chăn nuôi cho thu nhập 30 – 35 triệu đồng/năm/mô hình. Qua tìm hiểu được biết, trước đây, khi xã được Nhà nước đầu tư vốn phát triển chăn nuôi trâu, bò, trồng rừng… quần chúng nhân dân còn e ngại không nhận, vì thiếu kinh nghiệm sản xuất. Những lúc như thế, Ban chấp hành Đảng bộ, chính quyền xã họp, giao cho các đảng viên chịu trách nhiệm làm trước. Mô hình nuôi thử nghiệm ba ba được giao cho ông Hoàng Văn Quỳnh, hiện là Phó bí thư Thường trực Đảng bộ xã. Là đảng viên lại là CCB, ông luôn phát huy bản chất người lính Cụ Hồ; thường xuyên học hỏi kinh nghiệm qua sách báo, do đó mô hình ba ba ngày càng phát triển. 3 năm gần đây, mỗi năm gia đình ông thu gần 30 triệu đồng.

Thấy phó bí thư Quỳnh thành công, nhiều nông dân trong xã đến học hỏi kinh nghiệm, đầu tư kinh phí làm ao. Đảng viên Vi Văn Phú, đội 10 Yên Cang nổi tiếng với mô hình chăn nuôi trâu, bò và trồng rừng. Từ hai bàn tay trắng, sau nhiều năm “lấy ngắn nuôi dài”, đến nay gia đình ông đã có tổng tài sản khoảng 300 triệu đồng. Mỗi khi có người cần học hỏi kinh nghiệm phát triển kinh tế, anh truyền đạt tỉ mỉ quy trình chọn mua con giống, phương pháp chăn thả, tiêm các loại vaccin phòng bệnh cho trâu, bò, lợn…

Nói đến Sam Mứn, nhiều người liên tưởng đến “vựa rau” của tỉnh. Xã có 126ha đất trồng rau, trong đó 40ha ven sông Nậm Rốm, Pá Nậm trồng 3 vụ/năm. Mỗi năm xã bán ra thị trường hàng trăm tấn rau xanh. Những năm gần đây, rau Sam Mứn vượt đèo Pha Đin cung cấp cho đại công trường Thủy điện Sơn La; vượt cầu Hang Tôm đến với bữa ăn của nhiều gia đình tỉnh Lai Châu.

Vườn rau của gia đình anh Nguyễn Quang Chiên, đội 7 Pom Lót rộng gần 5.000m2, với đủ loại: bắp cải, cà chua, hành, dưa chuột… Anh đầu tư kinh phí khoan giếng, kéo điện, mua máy bơm tưới cho rau phát triển xanh non; mỗi năm gia đình thu khoảng 20 triệu đồng từ trồng rau. Được biết, các đội 5, 6, 7, 8… có hàng trăm gia đình trồng rau cho thu nhập 15 – 20 triệu đồng/năm. Năm 2006, xã phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật mở 2 lớp tập huấn, hướng dẫn quy trình trồng rau sạch, rau an toàn cho trên 100 nông dân.

Dạo qua một số bản, chúng tôi đi trên những tuyến đường nhựa, đường bê tông phẳng phiu. Hai bên đường, nhà xây kiên cố của đồng bào dân tộc Kinh hay nhà sàn lợp ngói dân tộc Thái rộng rãi. Trong vườn của mỗi gia đình xoài, nhãn, vải… sai trĩu quả. Từng hàng cột điện xuyên qua xóm nhỏ, đưa điện lưới quốc gia về với mọi nhà. Có điện, bà con mua ti vi, đài… nghe thông tin thời sự trong nước, quốc tế, nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đồng bào dân tộc Thái đã thay đổi tư duy, họ chăn nuôi gia súc, gia cầm có chuồng nhốt, xa nơi ở, bảo đảm vệ sinh môi trường, tốt ruộng, tránh dịch bệnh.

Nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ xã Sam Mứn lần thứ XIX (2005 – 2010) đề ra một số mục tiêu cơ bản trong phát triển KT – XH, quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực toàn xã đạt 8.000 tấn (tăng bình quân 1.600 tấn/năm); đàn gia súc, gia cầm tăng 6%/năm; 50% thôn, bản có đường giao thông đổ nhựa hoặc bê tông; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%.

Trần Toại (Theo ĐBPO)

Thêm bình luận