Lo lương thực cho đồng bào vùng cao

Sơn Động là huyện vùng cao duy nhất có nhiều xã đặc biệt khó khăn nhất tỉnh Bắc Giang. Trong đó nhiều xã có hơn 50% hộ nghèo, nhiều hộ thiếu ăn trong kỳ giáp hạt. Để từng bước khắc phục tình trạng này trong điều kiện dân trí còn thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, Huyện uỷ, UBND huyện Sơn Động đã xây dựng và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết chuyên đề đưa các giống lúa, ngô mới, áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp. Cách làm ở từng cơ sở là UBND huyện hỗ trợ xây dựng các mô hình khuyến nông đưa giống ngô, lúa mới vào sản xuất điểm. Đội ngũ cán bộ khuyến nông “bám đồng, lội ruộng”, tỷ mỷ hướng dẫn bà con cách gieo trồng, chăm sóc, lựa chọn giống ngô, lúa phù hợp với đồng đất địa phương. Mỗi mô hình thực hiện thành công, UBND xã và Trạm Khuyến nông huyện đều tổ chức hội thảo đầu bờ để bà con tham quan, học tập và nhân rộng cho vụ sản xuất sau. Trước đây ở xã Vĩnh Khương, bà con thường trồng các giống ngô địa phương, lúa Bao thai năng suất chỉ đạt 60-80 kg/sào. Thực hiện Nghị quyết của Huyện uỷ, Đảng bộ, chính quyền xã đã “vào cuộc”, tích cực chỉ đạo và thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống cây lương thực. Các mô hình khuyến nông trình diễn được xây dựng trên cánh đồng mẫu gần trung tâm xã có nhiều người qua lại để bà con dễ tiếp cận tìm hiểu, học tập và nhân rộng. Mỗi kỳ họp Đảng uỷ, UBND và HĐND xã đều quán triệt sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết và dẫn chứng những mô hình thực tế để các thôn, bản tích cực tham gia. Với cách làm trên, qua mỗi vụ sản xuất, cơ cấu các giống ngô, lúa chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực. Đến nay, giống ngô lai VN4, VN10, Bioseed; lúa KD18, ĐV108, Nhị ưu 838… chiếm tới 80% diện tích cây lương thực hàng năm của xã. Năng suất lúa, ngô đều tăng 1,5 đến 2 lần so với trước đây. Nhờ vậy, lượng lương thực có hạt bình quân đầu người toàn xã đạt 325 kg/năm, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tại chỗ của người dân địa phương. Điều quan trọng hơn là tập quán sản xuất của bà con có sự đổi thay nhanh chóng từ quảng canh sang thâm canh, tăng vụ, phát triển nông nghiệp hàng hoá…

Dù mỗi địa phương có hướng đi, cách làm khác nhau nhưng đều vì mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực cho đồng bào vùng cao, từng bước xoá đói, giảm nghèo. Theo ông Đỗ Xuân Bình, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh, ngoài việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thì xây dựng, thực hiện các dự án phát triển sản xuất nông nghiệp trong đó có cây lương thực được đặc biệt quan tâm. Đây là dự án mang lại hiệu quả trực tiếp góp phần ổn định, bảo đảm cuộc sống cho người dân miền núi, vùng cao. Chỉ tính riêng Chương trình 135 giai đoạn I đã dành hơn 7,5 tỷ đồng hỗ trợ nông dân sản xuất lúa lai, trồng tre lấy măng, nuôi bò sinh sản… Bên cạnh đó, các dự án đào tạo kiến thức chuyên ngành nông nghiệp, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ xã cũng được thực hiện nhằm chỉ đạo sản xuất ở cơ sở có hiệu quả. Ngoài ra, Chương trình trợ cước, trợ giá; các mô hình khuyến nông (ngành nông nghiệp và PTNT) cũng tập trung hỗ trợ giá giống ngô, lúa; xây dựng các mô hình trình diễn để mở rộng diện tích cây lương thực trên đất vùng cao. Đến nay, người dân các xã vùng cao của huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam đã biết trồng ngô lai trên đất bãi, xen canh với lạc, đỗ xanh để có thêm lương thực; thâm canh hai vụ lúa thuần và bổ sung vụ ngô đông trên cùng diện tích đất canh tác. Đặc biệt phương pháp canh tác tiên tiến như ươm ngô lai trong bầu trước khi trồng, sử dụng mạ xúc, cấy ít dảnh đã được người dân nơi đây áp dụng có hiệu quả. Nhờ xác định đúng hướng đầu tư và có cách làm phù hợp với mỗi địa phương nên sản lượng lương thực bình quân trên đầu người ở các xã vùng cao, đặc biệt khó khăn tăng gần gấp đôi so với năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 24,2% (tiêu chí cũ). Lợi ích lớn hơn mà các chương trình, dự án phát triển cây lương thực mang lại không chỉ bảo đảm cuộc sống mà còn góp phần thay đổi tập quán canh tác, nâng cao nhận thức cho người vùng cao.

Mặc dù sản xuất lương thực ở vùng cao có bước chuyển biến tích cực nhưng cơ sở hạ tầng nông thôn, nông nghiệp còn yếu, sản xuất chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, hạn hán liên tiếp xảy ra. Vì vậy, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất thời gian tới nên chú trọng phát triển các công trình phúc lợi trực tiếp phục vụ sản xuất gồm thuỷ lợi, giao thông, điện; các dự án phát triển sản xuất lương thực gắn với lâm nghiệp, chăn nuôi, liên kết tiêu thụ sản phẩm tạo sự ổn định, bền vững cho vùng cao. Để làm được điều đó không chỉ cần sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước mà các địa phương cần tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại, vươn lên bằng kinh nghiệm sẵn có để vượt qua đói nghèo, thu hẹp dần khoảng cách giàu, nghèo giữa các vùng, miền trong tỉnh.

Nên xem:   Hệ thống tưới thấm tự động

Cao Minh Ngọc (báo Bắc Giang)

Bài viết liên quan

Thêm bình luận