Bắc Quang mùa quả ngọt

Qua cửa ngõ Hà Giang những ngày cuối năm, trong cái lạnh căm căm đặc tr¬ng của vùng cao, từng đoàn xe của th¬ơng lái lên – xuống n¬ờm n¬ợp. Bóng những cô gái Dao, Tày, Nùng thấp thoáng trên các vạt đồi vàng rực màu cam. Khung cảnh nên thơ ấy báo hiệu một mùa bội thu của vùng cam nổi tiếng khắp cả n¬ớc. Nhờ có h¬ớng đi đúng, phát triển cây ăn quả dựa trên lợi thế, tiềm năng sẵn có, huyện Bắc Quang đã tạo ra sự đột phá trong phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn.

“Bén duyên” đất lành

Dẫn chúng tôi về xã Tân Thành, anh Phạm Xuân Tình, Tr­ởng phòng Kinh tế huyện Bắc Quang cho biết: “Năm 2000 trở về tr­ớc, cam chỉ đ­ợc trồng rải rác ở một số xã. Nguồn thu nhập chính của nông dân vẫn là sắn. Một số gia đình có thu nhập từ cam thì th­ờng xuyên gặp phải dịch bệnh do trình độ sản xuất thấp, ít hiểu biết về phòng trừ sâu bệnh. Nhiều diện tích cam già cỗi, sâu bệnh, khô cành nên chết hàng loạt. Phải đến năm 2001, sau khi huyện tiến hành khảo sát điều kiện tự nhiên và một số gia đình có thu nhập cao từ cam để đ­a vào chiến l­ợc phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn, tiềm năng, thế mạnh sẵn có, cam mới thực sự “bén duyên” mảnh đất này”.

Ch­ơng trình “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi theo h­ớng sản xuất hàng hoá để nâng cao giá trị kinh tế, tăng thu nhập từ phát triển kinh tế hộ” ở Bắc Quang đ­ợc bắt đầu từ sự quyết đoán, hợp lòng dân của lãnh đạo huyện và sự phối hợp đồng bộ của các dự án định canh, định c­, ch­ơng trình 134 và 661… Nhờ thế, những gia đình trồng manh mún, nhỏ lẻ tr­ớc đây đ­ợc khuyến khích trồng mới, trồng tập trung có đầu t­ thâm canh. Với mục tiêu trồng mới 1.000ha cam – quýt, huyện đã hỗ trợ 50% giá cây giống cho nông dân và ­u tiên các nguồn vốn vay cho phát triển cam theo mô hình trang trại. Từ năm 2002 – 2005, huyện đã hỗ trợ 132, 129 triệu đồng cho các hộ mua 25.224 cây cam giống sạch bệnh (khoảng 50,45ha). Cuối năm 2005, toàn huyện đã có 89 trang trại, sử dụng 714ha đất, tổng vốn đầu t­ 7.848 triệu đồng, giá trị sản phẩm đạt 25.000 triệu đồng. Các trang trại trồng cam đã bắt đầu phát huy hiệu quả, cho thu nhập bình quân 35 triệu đồng /ha/năm (gấp 3 lần so với trồng chè).

Gia đình bà Nguyễn Thị Mão ở thôn Bản Tân, xã Tân Thành có khoảng 4ha cam. Nhờ chăm sóc tốt nên năm nay v­ờn cam trĩu quả, ­ớc thu khoảng 90 tấn. Bà Mão cho biết: “Năm 1996, gia đình tôi đ­ợc hỗ trợ 1, 5ha đất sản xuất từ Ch­ơng trình 134. Tôi mạnh dạn trồng gần 1.000 gốc cam nh­ng do thiếu kiến thức kỹ thuật nên sản l­ợng chỉ đạt 9 – 27 tấn /ha/năm. Từ khi huyện khuyến khích phát triển cây cam theo h­ớng sản xuất hàng hoá, gia đình tôi mới đầu t­, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Năm 2004, tôi vay 40 triệu đồng từ nguồn vốn ­u đãi để trồng cam. Lúc đầu cây giống đắt (7000 đồng /cây) lại thiếu kinh nghiệm nên có đợt cây đang xanh tốt tự nhiên lá bị úa vàng, mục rễ rồi chết. Trong khi chúng tôi đang lo đến mất ăn, mất ngủ thì cán bộ Phòng Nông nghiệp và Hội Làm v­ờn tỉnh vào cuộc. Lúc đó, tôi mới biết cây gặp bệnh vàng lá gân xanh. Nhờ cán bộ h­ớng dẫn cách chữa trị nên v­ờn cam nhanh chóng phục hồi và bắt đầu cho trái. Năm nay tôi có thể yên tâm trả hết nợ”.

Có thể bạn cũng quan tâm tới những bài viết

Bà Duyên Thị Chí (ng­ời Mông) ở thôn Khuẩy Liếng, xã Đông Thành cho biết, nhờ Dự án định canh, định c­ giúp đỡ hạ sơn và ổn định sản xuất với hơn 1.000 gốc cam. Do không đầu t­ đúng mức, nên sau đợt dịch bệnh vàng lá, chỉ còn 600 gốc, sản l­ợng thấp, chất l­ợng quả không đồng đều. Từ năm 2004, đ­ợc tỉnh, huyện hỗ trợ, bà Chí chặt sắn để tập trung đầu t­ cho 1, 5ha cam. Chỉ sau 1 năm, đã thu đ­ợc 16 triệu đồng. Năm nay bà mạnh dạn vay vốn trồng thêm vài trăm gốc cam sạch.

Vùng trồng cam lớn nhất của Bắc Quang tập trung chủ yếu ở các xã: Vĩnh Hảo, Việt Hồng, Tiên Kiều… Nhờ vậy, nhiều xã trên địa bàn huyện đã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn. Dọc theo các triền đồi vàng rực màu cam đã thấp thoáng những ngôi nhà cao tầng còn nguyên màu vôi mới. Toàn huyện có 33 hộ đạt sản l­ợng cam từ 50 tấn trở lên. Diện tích cam đã tăng lên 3.547ha (trồng mới 253ha, 2.305ha đã cho thu hoạch, sản l­ợng 18.380 tấn, đạt giá trị 64.330 triệu đồng). Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm xuống còn 20,1% (năm 2005 là 29,5%). Kết quả ngoạn mục này có một phần “đóng góp” rất lớn của vùng chuyên canh cam.

Chiến l­ợc giữ và phát triển th­ơng hiệu

Hai năm tr­ớc, mặc dù chất l­ợng cam Hà Giang rất tốt, ngọt, mọng n­ớc, không thua kém cam Vinh nh­ng ng­ời dân vẫn phải tự tìm thị tr­ờng tiêu thụ nên giá chỉ vào khoảng 1.500 – 2.000 đồng /kg. Ch­a kể tình trạng bị t­ th­ơng ép giá khiến giá trị của sản phẩm bị giảm nhiều. Để vực lại cây cam, tỉnh Hà Giang đã đề ra nhiều giải pháp tích cực. Theo đó, bên cạnh việc chú trọng đầu t­ sâu vào lĩnh vực khoa học công nghệ, tỉnh còn giao cho Hội Làm v­ờn tiến hành làm thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm cam sành Hà Giang. Từ khi th­ơng hiệu Cam sành Hà Giang đ­ợc công nhận (năm 2004) thì giá trị của “đặc sản” Bắc Quang đã tăng lên rất nhiều, giá cam đạt bình quân 4.000 – 5.000 đồng /kg, nhiều siêu thị, trung tâm th­ơng mại lớn trong n­ớc đã “đánh tiếng” muốn đặt hàng lâu dài. Mùa cam năm nay, cam Hà Giang đã chiếm lĩnh đ­ợc thị tr­ờng khắp trong Nam ngoài Bắc, đi vào hệ thống siêu thị. Ông ấu Đình Chiến, Chủ tịch UBND huyện Bắc Quang cho biết: “Vấn đề khẳng định và phát triển th­ơng hiệu cam Bắc Quang đ­ợc đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, huyện luôn có chính sách đầu t­ khuyến khích phát triển, áp dụng nhiều giải pháp, tiến bộ kỹ thuật nh­: chọn lọc giống, sử dụng phân bón hợp lý, quy trình chăm sóc khoa học để duy trì và phát triển cây cam một cách bền vững. Tuy chất l­ợng đã ổn định, số l­ợng sản phẩm hàng năm đều tăng song khó khăn lớn nhất đối với bà con hiện nay là ch­a xây dựng đ­ợc trung tâm xúc tiến th­ơng mại, nhà máy chế biến gắn với vùng sản xuất. Hiện huyện đang nỗ lực xây dựng các chợ đầu mối để quản lý nhãn hiệu (phân loại, đóng mác, dán tem…), vận chuyển mua bán… đảm bảo giá trị của th­ơng hiệu”.

Một trong những giải pháp nhằm giữ vững tên tuổi cam Hà Giang là chú trọng xây dựng vùng cam sạch bệnh. Từ nay đến năm 2010, huyện phấn đấu trồng mới 1.250ha thay thế những cây cam bị già cỗi và nhiễm bệnh. Bên cạnh đó, nhiều giải pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao sản l­ợng và giá trị cam cũng đ­ợc áp dụng. Đặc biệt, vụ cam năm nay, để giữ sản phẩm t­ơi, ngon lâu hơn, huyện còn khuyến cáo bà con dùng chế phẩm BOQ -15 để bảo quản. Cách sử dụng cũng rất đơn giản, chỉ cần nhúng cam vào dung dịch khoảng 30 – 40 giây, sau đó để khô tr­ớc khi đ­a vào kho bảo quản. Chế phẩm BOQ -15 sẽ tạo ra lớp màng bám thấm lên bề mặt quả cam, kéo dài đ­ợc thời gian bảo quản (gấp đôi, gấp ba thời gian so với cách bảo quản thông th­ờng – hiện nay bà con chỉ giữ đ­ợc cam t­ơi trong khoảng 20 ngày) mà không ảnh h­ởng đến chất l­ợng quả. Bảo quản bằng công nghệ này có ­u điểm là không gây độc hại, sau khi thực hiện quy trình bảo quản vẫn có thể sử dụng ngay đ­ợc. Đ­ợc biết, huyện cũng tổ chức một hội nghị khách hàng tiêu thụ cam – quýt, mời tất cả các bạn hàng từ các tỉnh – thành nhằm hình thành một thị tr­ờng tiêu thụ ổn định và bền vững. Đây là những b­ớc chuẩn bị để cam Hà Giang cùng với hệ thống nông sản Việt vững vàng b­ớc vào hội nhập.

Nguyên Hoa

Bài viết liên quan

Thêm bình luận