Loading...
» Đặt làm trang chủ » Thêm vào Favorites » Trợ giúp » Nội quy » Liên hệ   Hỗ trợ trực tuyến: Trợ giúp qua Yahoo Messenger!  
 
 
» FAQ » Giới thiệu » Quy định và Chính sách » Thuật ngữ » Đăng ký thành viên » Gian hàng trực tuyến » Sự cố và lỗi hệ thống » Hội Nông Dân » GAP » Page Rank » Liên hệ
 
 
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ
 Trợ giúp qua Yahoo Messenger! Trợ giúp qua Skype Chat! Trợ giúp qua Google Talk!
TÌM THÔNG TIN:
 
 

GAP
   Tiêu chuẩn GAP - Good Agriculture Practices
NGUYÊN TẮC SẢN XUẤT RAU SẠCH THEO TIÊU CHUẨN  GAP

Chọn đất:

Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau. Tốt nhất là chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại.

Nước tưới:

Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng cần dùng nước sông, ao, hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc BVTV.... Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh.  

Giống:

Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hoá chất hoặc nhiệt. Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này.  

Phân bón:

Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau. Trung bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng và 300kg lân hữu cơ vi sinh cho 1ha. Tuyệt đối không dùng phân chuồng tươi để loại trừ các vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các nhóm vi sinh vật. Tuyệt đối không dùng phân tươi và nước phân chuồng pha loãng tưới cho rau.

Bảo vệ thực vật:

Không sử dụng thuốc hoá học BVTV thuộc nhóm độc I và II, khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV. Nên chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch. Kết thúc phun thuốc hoá học trước khi thu hoạch ít nhất 5 đến 10 ngày. Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như Bt, hạt củ đậu, các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để phòng bệnh. Áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để phòng trừ tổng hợp IPM như: luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt không bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý...  

Thu hoạch, đóng gói:

Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng. Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng. Trên bao bì phải có phiếu bảo hành ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.

Theo Nông nghiệp Việt Nam, 20/03/2006


TIÊU CHUẨN EUREP GAP - 

SẢN XUẤT QUẢ THEO HƯỚNG CHẤT LƯỢNG, VỆ SINH VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM (GAP)

Bài giảng của Ts. Nguyễn Văn Hoà & Ths. Võ Hữu Thoại , 25/10/2007- Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam - HT 203 Mỹ Tho, Tiền Giang - Email: hoappd@hcm.vnn.vn, hoa_vn2003@yahoo.com

I. ĐẶT VẦN ĐỀ 

Ngày nay khi xã hội phát triển cao, đời sống vật chất, tinh thần cũng tăng cao trên toàn thế giới, chính vì vậy nhu cầu cuộc sống cũng cao hơn, chất lượng hơn, an toàn hơn, nhất là ở những nước phát triển, có nền kinh tế mạnh. Ngay cả trong nước cũng vậy, hiện nay nhu cầu mặc đẹp, ăn ngon, chất lượng, an toàn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Hiện nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa gia nhập AFTA và Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Thách thức lớn nhất trong thời đại của chúng ta là sản xuất và bán ra thực phẩm an toàn đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới. Chỉ trong mấy thập kỷ qua, cơ hội do nhiễm khuẩn thực phẩm đã tăng lên nhiều lần. Ngoài những lý do "truyền thống" như sự coi thường và thiếu ý thức của con người về vệ sinh còn có nhiều lý do khác là cơ hội cho nhiễm độc xuất hiện. Nhiễm độc thực phẩm có thể là hậu quả của một số phương thức sản xuất nông nghiệp hiện đại, kỹ thuật xử lý thực phẩm cũng như do sự thay đổi trong mô hình phân phối hoặc sở thích của người tiêu dùng. Người ta phát hiện một số bệnh trước đây còn chưa được biết đến có nguồn gốc từ biến chứng những bệnh nhiễm độc do thực phẩm. Điều này làm tăng lên số lượng những ca được phát hiện mắc bệnh có nguyên nhân từ thực phẩm.

Những năm gần đây, số trường hợp ngộ độc thực phẩm ngày càng gia tăng cả trên thế giới và trong nước. Hàng năm trên thế giới có 1,5 tỷ ca bị bệnh tiêu chảy mà phần lớn xãy ra ở các nước đang phát triển. 

Tại Việt Nam, trư­ớc năm 1985 khối l­ượng thuốc bảo vệ thực vật dùng là 6.500 - 9.000 tấn, l­ượng sử dụng bình quân là 0,30 kg a.i/ha, đến nay l­ượng thuốc bảo vệ thực vật khoảng 33.000 tấn và 1,04kg a.i/ha.

Theo thống kê của Bộ Y Tế từ năm 1997 – 2000 có 1.391 vụ ngộ độc phải đi cấp cứu với số người lên đến 25.509 người, trong đó có 217 người chết. Năm 2001 có 227 vụ với 3.814 người trong đó có 63 người chết.

Bảng 1: Tình hình ngộ độc thực phẩm ở nước ta từ 1999 đến 2005                         (Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, Bộ Y Tế)

Năm

Số vụ ngộ độc

Số nạn nhân

Số người tử vong

Số vụ ngộ độc hàng loạt

1999

327

7.576

71

 

2000

213

4.233

59

 

2001

245

3.901

63

30

2002

218

4.984

71

41

2003

238

6.428

37

42

2004

145

3.584

41

27

2005

144

4.304

53

32

Theo ước tính của WHO, ở Việt Nam hàng năm có khỏang hơn 3 triệu ca ngộ độc thực phẩm, gây tổn hại khỏang 3.000 tỷ đồng VN (Cục Nông Nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2004).

Ngày nay sản xuất theo hướng chất lượng, vệ sinh và an toàn đóng vai trò rất quan trọng, nhiều nước rất chú ý đến việc an toàn thực phẩm, nhất là những nước Châu Âu, Bắc Mỹ, Newzealand,.... Họ đặt ra các tiêu chuẩn, qui định để buộc sản phẩm của các quốc gia khác khi vào thị trường phải tuân thủ nhằm bảo vệ người tiêu dùng và môi trường trong nước.

Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO (Tổ chức thương mại tự do toàn cầu), khi là thành viên WTO Việt Nam cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề cam kết áp dụng tiêu chuẩn về VSATTP, các nước trong WTO có thể sử dụng VS ATTP như rào cản để ngăn chặn sản phẩm từ các quốc gia khác xâm nhập vào thị trường của họ nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước.

Trung Quốc vốn là thị trường dễ tính cho trái cây Việt Nam, nhưng từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2002, thì việc xuất khẩu sang Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức mới, Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trung Quốc quy định mặt hàng rau quả tươi nhập khẩu vào nước này phải đáp ứng yêu cầu về vệ sinh và an toàn thực phẩm, có đóng gói, có ghi xuất xứ hàng hoá. Hiện nay, trái cây Việt Nam chưa đạt những yêu cầu này, do sản xuất nhỏ, manh mún, quen buôn chuyến qua biên giới, không có thùng, không có ghi xuất xứ hàng hoá, ngoại trừ thanh long được đóng thùng rất đẹp.

Bảng: Kim ngạch xuất khẩu từ 2000 - 2005 của trái cây Việt Nam vào thị trường Trung Quốc.

TT

Năm

Kim ngạch xuất khẩu  (USD)

(%) Sụt giảm so 2002

1

2000

120.351.000

-

2

2001

142.801.000

-

3

2002

121.529.000

-

4

2003

  67.068.000

44,8

5

2004

  24.965.000

79,5

6

2005

  36.000.000

<70,4

(nguồn: ViNaFruit)

Một số loại trái cây của Việt Nam có chất lượng ngon, diện tích lớn và đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT chọn là những loại cây ăn trái có tiểm năng xuất khẩu, có khả năng cạnh tranh trên thương trường ở khu vực và quốc tế như: xoài cát Hoà lộc, thanh long, dứa Queen, bưởi Da xanh, vải Thiều, nhãn Lồng, nhãn Xuồng, ...

Tuy nhiên, hầu hết  trái cây của Việt Nam chưa bảo đảm an toàn thực phẩm và chưa thể truy nguyên nguồn gốc sản xuất là một trong những rào cản cho việc hội nhập cũng như cạnh tranh của rau quả Việt Nam trong khu vực và thế giới hiện nay.

Gia nhập WTO là thời cơ và cũng là thách thức cho sản phẩm nông sản Việt Nam tham gia vào thị trường khu vực và thế giới.

Đứng trước thực trạng như vậy, người sản xuất, người cung ứng sản phẩm phải thật sự chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, thay đổi phương thức canh tác, chăm sóc, bảo vệ thực vật cho cây theo hướng an toàn, không để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, không để vi sinh vật có hại hiện diện trên quả, làm cho quả đạt chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng.Để thực hiện được việc này, Tổ chức những người bán lẻ và cung cấp ở Châu Âu EUREP ( European Retail Products) đã công bố tiêu chuẩn EUREP GAP (European Retail Products Good Agriculture Practice) cho thị trường này và hàng hoá của các nước muốn vào những nước Châu Âu phải tuân theo các tiêu chuẩn này. Riêng ở Việt Nam trong khi chờ đợi xây dựng những tiêu chuẩn , chúng ta nên tham khảo và ứng dụng những tiến bộ này của thế giới để thay đổi dần tập quán canh tác, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn, tiến tới tạo sự ổn định về chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng GAP là vấn đề sống còn rau quả, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của trái cây Việt Nam trên thị trường trong khu vực và thế giới là điều cần thiết và cấp bách trong tình hình hiện nay.

II. CÁC YẾU TỐ TOÀN CẦU VÀ KHU VỰC DẪN ĐẾN NHU CẦU VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM

II.1 Các yếu tố toàn cầu dẫn đến nhu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm

a/ Sự thay đổi lối sống của người tiêu dùng :

- Lối sống của người tiêu dùng thay đổi và xu hướng do chất lượng cuộc sống tăng dẫn đến nhu cầu về sản phẩm rau quả có chất lượng và an toàn tăng.

- Những thay đổi này sẽ tác động vào hệ thống cung ứng sản phẩm.

 b/ Tăng tự do thương mại và toàn cầu thương mại:

- Khi gia nhập sân chơi thương mại quốc tế (WTO), việc xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước là một lợi thế cạnh tranh tự do, nhưng những rào cản về an toàn vệ sinh dịch tể là một trong những thách thức mới của chúng ta.

c/ Sự gia tăng ưu thế của siêu thị toàn cầu:

- Các siêu thị có những yêu cầu ngiêm ngặt về chất lượng và an toàn thực phẩm, nhằm đảm bảo tính đồng đều và an toàn cho người tiêu dùng.

- Để có những sản phẩm chất lượng đồng đều và được cung cấp quanh năm thì siêu thị có nhiều nguồn cung cấp từ các nước khác nhau.

d/ Chính sách của nhà nước: 

- Qui định chung về vệ sinh an toàn dịch tể

- Xây dựng danh sách dư lượng (MRL) cho phép thuốc bảo vệ trong nông sản thực phẩm (Maximum Residue Limits).

Maxium Residue Limit (MRL) là một giới tối đa dư lượng thuốc BVTV (biểu thị bằng mg/kg), là nồng độ cao nhất của dư lượng thuốc có trong một đơn vị sản phẩm quả mà ở đó có thể được chấp nhận, cho phép bởi bộ luật của một nước cho một loại rau quả nào đó.

MRL dựa trên dữ liệu GAP và sản phẩm cây trồng và nó phải thoả mãn MRL ở mức độ độc tính có thể chấp nhận được.

MRL của mỗi nước khác nhau tuỳ thuộc vào chủng loại thuốc BVTV hiện có tại quốc gia mình, chủng loại rau quả và phương pháp sử dụng chúng. Rau quả xuất khẩu phải đạt dưới mức giới hạn tối đa cho phép của thị trường tiêu thụ.

Mỗi nước khác nhau có mức MRL khác nhau, để sản xuất trái cây có thể xuất khẩu được thị trường có giá trị cao thì chúng ta phải tham khảo bảng MRL của nước mà chúng ta muốn xuất khẩu trái cây sang.

Ví dụ: Theo WHO và FAO thì giới hạn dư lượng tối đa MRL (Maximum Residue Limits) của hoạt chất Monocrotophos trong trái cam quýt là 0,2mg/kg; giới hạn dư lượng tối đa của hoạt chất Cypermethrin trong quả cà chua là 0,5mg/kg. Đối với Châu Âu(EU) thì giới hạn dư lượng thuốc trừ sâu trong chè (Trà) nhập khẩu cho phép là 0,01ppm.  

e/ Các đòi hỏi tính trách nhiệm cộng đồng:

- Bảo vệ môi trường

- Phúc lợi cho người lao động

- Sản phẩm không biến đổi gen (GMOs)

Năm 2005, Tổ chức Hoà bình Xanh  Đông Nam Á nhấn mạnh lúa gạo biến đổi gen không phải là giải pháp chống đói nghèo của thế giối vì nó tiềm ẩn nhiều hiểm hoạ đối với sức khoẻ và môi trường.

f/ Thương mại điện tử:

- Việc mua bán hàng qua mạng hiện nay là khá phổ biến giữa các quốc gia.

- Việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá các qui định về chất lượng và an toàn là một điều cam đoan cho việc giao dịch. 

II.2 Các yếu tố khu vực dẫn đến nhu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm

a/ Thu nhập tăng:

Thu nhập nhiều hơn khuyến khích người tiêu dùng mua nhiều thực phẩm mới và lạ. Nhu cầu về chất lượng cao hơn cũng tăng.

b/ Thay đổi lối sống tiêu dùng:

Những thay đổi lối sống ở khu vực Đông Nam Châu Á, bộc lộ những ảnh hưởng của phương tây về sở thích đi mua sắm, nấu ăn và thói quen ăn uống.

Trình độ giáo dục tăng nghĩa là nhận thức tốt hơn về giá trị dinh dưỡng và an toàn thực phẩm.

c/ Du lịch tăng:

Du lịch khu vực Châu Á ngày càng tăng ---> thực phẩm phải chất lượng và an toàn phục vụ du khách. 

d/ Phát triển cơ sở hạ tầng:

Đường sá phát triển tốt tạo thuận lợi cho việc phát triển các dây chuyền siêu thị.

Việc phát triển các hệ thống mua sắm siêu thị tập trung hoá đòi hỏi các trang thiết bị đồng bộ. 

e/ Sự gia tăng các siêu thị:

Những thay đổi trong lối sống và việc tăng thu nhập làm thay đổi sở thích mua sắm tại mộ siêu thị.

f/ Xuất nhập khẩu/nhập khẩu:

Tự do thương mại giữa các nước đã tạo ra dễ dàng tiếp cận việc nhập khẩu và xuất khẩu.

III. MỘT SỐ DẪN CHỨNG VỀ NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM:

Thế Giới:

Những năm gần đây, số trường hợp ngộ độc thực phẩm ngày càng gia tăng cả trên thế giới và trong nước. Hàng năm trên thế giới có 1,5 tỷ ca bị bệnh tiêu chảy mà phần lớn xãy ra ở các nước đang phát triển. Năm 2001, có 2,1 triệu ca tử vong do bệnh này. Ở Mỹ có 3 tác nhân gây bệnh chủ yếu là Salmonella, ListeriaToxoplasma gây tử vong khoảng 1500 trường hợp mỗi năm. Các loại vi khuẩn gây bệnh trên rau và quả gồm: Salmonella, Shigella, Escherichia coli, Campylobacter sp...

* 1999- Australia , trên 500 người ngộc độc do uống phải nước cam nhiễm vi sinh Salmonela mà qua điều tra trong kho đóng gói có thùng thuốc trừ nấm bệnh.

* 2003 – Hoa Kỳ, hành lá nhiễm khuẩn bị quy là thủ phạm chính gây ra dịch viêm gian làm 400 người mắc bệnh và 3 ca tử vong. 

* 2004 – Hoa Kỳ và Canada, 3 đợt dịch nhiểm  khuẩn Salmonela liên quan tới cà chua Roma làm 561 người bị ngộ độc ở 18 bang Hoa Kỳ và 1tỉnh của Canada.

* 2005- Philippines, 27 học sinh ở miền Trung Philippines chết sau khi ăn bánh sắn nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. 

Việt Nam:

Trong các Hội thi trái cây ngon và an tòan thực phẩm do Viện Nghiên cứu CAQ miền Nam phối hợp với các tỉnh ĐBSCL tổ chức đều có phát hiện dư lượng thuốc BVTV (dưới hoặc vượt mức cho phép) trong các mẫu đạt giải, ví dụ  tại Hội chợ Nông nghiệp quốc tế Cần Thơ năm 2004 có đến 10 mẫu trái/26 mẫu trái đạt giải trái ngon, bị phát hiện có dư lượng thuốc BVTV trong quả.

Kết quả phân tích hàm lượng nitrat (NO3-), trên bắp cải, cải xanh, su hào, cà chua, đậu, nho, chè trong sản xuất ở các địa phương (Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Thuận, Tp. Hồ Chí Minh, Thái Nguyên) trên 100% mẫu kiểm tra đều vượt mức cho phép từ 1,3 - 5 lần (Cục Nông Nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004).

Kết quả điều tra trên thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh từ 1996 – 2001 trên 10 loại rau quả cho thấy 30 - 60% mẫu có dư lượng thuốc BVTV (Cục Nông Nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004).

Các lô hàng dứa Queen đóng hộp của Việt Nam cũng bị Châu Âu cảnh cáo là chứa hàm lượng nitrat quá cao. Năm 2004, một lô hàng nước trái sơri ép (puree) xuất sang Nhật Bản bị phát hiện tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép.

Bảng 2: nhóm nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm(%) (Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y tế, 2005)

Nguyên nhân gây  ngộ độc thực phẩm

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

Vi sinh vật

48,3

32,8

38,4

42,2

49,2

55,8

51,4

Hóa chất

11

17,4

16,7

25,2

19,3

13,2

08,3

Thực phẩm có độc

06,4

24,9

31,8

25,2

21,4

22,8

27,1

Không rõ nguyên nhân

34,3

24,9

13,1

07,4

10,1

08,2

13,2

Gần đây nhất (2/2006), một lô hàng trái thanh long xuất qua thị trường Đan Mạch cũng bị phát hiện tồn dư thuốc BVTV là Cypermethrin (trừ sâu nhóm cúc tổng hợp Pyrethroid có tên thương phẩm là: Sherpa, Cymbush, Fastac, Cymerin... ) ở liều lượng 0,10 mg/kg (hạn mức cho phép tối đa MRL tại EU là 0,05 mg/kg) và Iprodion (trừ bệnh Rovral) 0,17 mg/kg (MRL tại EU là 0,02 mg/kg). Từ thông tin này, truy lại MRL của Việt Nam thì đã cũ và cao hơn FAO qui định.

Kết quả phân tích hàm lượng nitrat (NO3-), trên bắp cải, cải xanh, su hào, cà chua, đậu, nho, chè trong sản xuất ở các địa phương (Hà Nội, Bắc giang, Hải phòng, Hà Nam, Ninh thuận, Tp. Hồ Chí Minh, Thái Nguyên) trên 100% mẫu kiểm tra đều vượt mức cho phép từ 1,3 - 5 lần (Cục Nông Nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2004).

Các nghiên cứu  trên nho, táo bán trên thị trường và khu vực sản xuất cho thấy dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (gốc lân) cao gấp nhiều lần so với khuyến cáo của WHO, FAO.(Bùi Cách Tuyến và ctv, 1998).

Kết quả điều tra trên thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh từ 1996 – 2001 trên 10 lọai rau quả cho thấy 30 –60% mẫu có dư lượng thuốc BVTV.

Trong Hội thi trái cây ngon và an tòan thực phẩm tổ chức ngày 11/12/2004 tại Hội chợ Nông nghiệp quốc tế Cần Thơ, trong tổng số 30 mẫu trái đạt giải trái ngon nhưng có đến 4 mẫu trái không đạt an tòan thực phẩm do hàm lượng thuốc BVTV tích lủy trong trái cao quá mức qui định.

Năm 2004, lô hàng nước trái sơri ép (puree) xuất sang Nhật bản bị đổ bỏ do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật quá cao. Gần đây nhất(2/2006), một lô hàng trái thanh long xuất qua thị trường Đan mạch cũng bị phát hiện tồn dư thuốc BVTV là Cypermethrin(trừ sâu nhóm cúc tổng hợp Pyrethroid có tên thương phẩm là: Sherpa, Cymbush, Fastac, Cymerin... ) ở liều lượng 0.10 mg/kg (hạn mức cho phép tối đa MRL tại EU là 0.05 mg/kg) và Iprodion(trừ bệnh Rovral) 0.17 mg/kg (hạn mức cho phép tối đa MRL tại EU là 0.02 mg/kg) . Các lô hàng dứa Quuen đóng hộp của Việt nam cũng bị Châu Âu cảnh cáo là chứa hàm lượng nitrat quá cao.   

Khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Khu vực Thương mại Tự do (FTA) hàng rào thuế quan và hạn ngạch được thay thế bởi các quy định về An toàn Thực phẩm  và Kiểm dịch Thực vật.

Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng quả, tiến tới tạo sự ổn định về chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng GAP là vấn đề sống còn rau quả, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của trái cây Việt Nam trên thị trường trong khu vực và thế giới là điều cần thiết và cấp bách trong tình hình hiện nay.

IV. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỐT GAP (GOOD AGRICULTURAL PRACTICES ) LÀ GÌ?

1/ Sản xuất nông nghiệp bền vững GAP (Good Agricultural Practices) là gì?

Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agriculture Practices - GAP) là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng.

GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, việc sử dụng đất đai, phân bón, nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm, v.v. nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo:

1. An toàn cho thực phẩm

2. An toàn cho người sản xuất

3. Bảo vệ môi trường

4. Truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm 

2/ Tiêu chuẩn của GAP về thực phẩm an toàn tập trung vào 4 tiêu chí sau:

   a/ Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất

Mục đích là càng sử dụng ít thuốc BVTV càng tốt, nhằm làm giảm thiểu ảnh hưởng của dư lượng hoá chất lên con người và môi trường:

+ Quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp(Intergrated Pest Management = IPM)

+  Quản lý mùa vụ tổng hợp  (Itergrated Crop Management = ICM).

+ Giảm thiểu dư lượng hóa chất(MRL = Maximum Residue Limits) trong sản phẩm.

  b/ Tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm

Các tiêu chuẩn này gồm các biện pháp để đảm bảo không có hoá chất, nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch:

+ Nguy cơ nhiễm sinh học: virus, vi khuẩn, nấm mốc  

+ Nguy cơ hoá học.

+  Nguy cơ về vật lý.

 c/ Môi trường làm việc

Mục đích là để ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân:

+  Các phương tiện chăm sóc sức khoẻ, cấp cứu, nhà vệ sinh cho công nhân

+  Đào tạo tập huấn cho công nhân

+  Phúc lợi xã hội.

 d/ Truy nguyên nguồn gốc

GAP tập trung rất nhiều vào việc truy nguyên nguồn gốc. Nếu khi có sự cố xảy ra, các siêu thị phải thực sự có khả năng giải quyết vấn đề và thu hồi các sản phẩm bị lỗi.

Tiêu chuẩn này cho phép chúng ta xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. 

GAP mang lại lợi ích gì?

°An toàn: vì dư lượng các chất gây độc (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng nitrát) không vượt mức cho phép, không nhiễm vi sinh, đảm bảo sức khoẻ cho người tiêu dùng.

° Chất lượng cao (ngon, đẹp…) nên được người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận.

° Các quy trình sản xuất theo GAP hướng hữu cơ sinh học nên môi trường được bảo vệ và an toàn cho người lao động khi làm việc

Mỗi nước có thể xây dựng tiêu chuẩn GAP của mình theo tiêu chuẩn Quốc tế. Hiện nay có USGAP (Mỹ), EUREPGAP (Liên minh châu Âu).

Các nước trong khu vực Asean đã thực hiện GAP từ việc điều chỉnh tiêu chuẩn EUREPGAP cho phù hợp với tình hình sản xuất của nước họ như: Hệ thống SALM của Malaysia, INDON GAP của Indonesia, VF GAP của Singapore, Q Thái của Thái Lan… 

Liên hiệp các nước Đông Nam Á (ASEAN) và chính phủ Úc xây dựng bản dự thảo tiêu chuẩn ASEANGAP đại diện cho 10 nước trong khu vực Đông Nam Á vào tháng 11 năm 2005.

°Tiêu chuẩn ASEANGAP đã ban hành vào 2006. 

3/ Mục tiêu ASEANGAP là gì? 

Việc xây dựng dự thảo  ASEANGAP sẽ tạo điều kiện áp dụng GAP cho các nước trong khu vực, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm. Tạo điều kiện cho thương mại khu vực và trên quốc tế.

° Hài hoà hoá trong nội bộ ASEAN thông qua một ngôn ngữ chung đối với GAP.

° Tăng cường an toàn thực phẩm của sản phẩm tươi đối với người tiêu dùng.

° Tăng cường độ vững bền của các nguồn tài nguyên ở các nước ASEAN.

 4/ Phạm vi ASEANGAP là gì? 

- Bao gồm các sản phẩm rau quả tươi và cây thuốc.

- Không áp dụng cho các sản phẩm hữu cơ và các sản phẩm có mức độ lây nhiễm cao như:

+ Rau mầm.

+ Các sản phẩm trái cây sơ chế.

+ Sản phẩm biến đổi gen(GMOs).

V.  NHỮNG ĐIỂM CHÍNH TRONG EUREPGAP:

1) TRUY NGUYÊN NGUỒN GỐC ( 1CY)

Có một hệ thống lưu trữ hồ sơ về việc truy tìm nguồn gốc cho phép các sản phẩm đã đăng ký EUREPGAP có thể được truy tìm nguồn gốc cho đến tận trang trại đã đăng ký hoặc nhóm các chủ trang trại đã đăng ký, và truy ngược đến người tiêu thụ. (CY) 

Các hoạt động để xác định nguồn gốc, xuất xứ mà EUREPGAP yêu cầu:

• Các thùng chứa sản phẩm đã đóng gói cần có nhãn mác rõ ràng để có thể truy nguồn gốc, xuất xứ của trang trại hoặc địa điểm sản xuất ra loại rau quả đó.

• Đối với mỗi lô sản phẩm, cần có hồ sơ lưu ghi ngày tháng và địa điểm giao hàng.

• Nếu sản phẩm bị xác định là ô nhiễm hay có nguy cơ ô nhiễm, thì cần cách ly lô sản phẩm đó, ngừng phân phối hoặc thông báo tới người tiêu dùng nếu họ đã mua sản phẩm.

• Điều tra nguyên nhân ô nhiễm và thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tái nhiễm đồng thời lưu lại biên bản.

2. LƯU TRỮ HỒ SƠ VÀ KIỂM TRA NỘI BỘ  (3 CY, 1 TY)

Chủ trang trại phải cập nhật và lưu trữ tài liệu trong thời gian tối thiểu 2 năm trừ khi được yêu cầu về mặt pháp lý phải lưu trữ lâu hơn. Trước khi đăng ký EUREPGAP, các lưu trữ hồ sơ trong quá khứ không được yêu cầu. Những người mới đăng ký EUREPGAP  phải có hồ sơ lưu trữ một cách đầy đủ trong ít nhất 3 tháng trước ngày kiểm tra.(TY)

Chủ trang trại có tài liệu chứng minh EUREPGAP tiến hành thanh tra nội bộ hàng năm.(CY)

Danh mục kiểm tra (Check list) của EUREPGAP đã được hoàn tất và lưu trữ thành hồ sơ.(CY).

Các hồ sơ về biện pháp khắc phục hiệu quả các tồn tại được lưu trữ và được thực hiện đầy đủ.(CY).  

Hoạt động: Rà soát

• Kiểm tra các hoạt động ít nhất mỗi tháng một lần bởi thanh tra viên nội bộ để tòan bộ hệ thống vận hành hiệu quả đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục những khiếm khuyết còn tồn tại.

• Lưu lại biên bản kiểm tra và các biện pháp khắc phục. 

Hoạt động: Hồ sơ lưu trữ

• Cần lưu giữ tất cả các tài liệu, hồ sơ, biên bản để chứng minh việc áp dụng EUREPGAP ít nhất trong thời kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm hoặc có thể lâu hơn nếu pháp luật quy định.

3. CÁC GIỐNG CÂY TRỒNG  (2 CY, 8 TY, 2 ĐN)

Những nguy cơ đối với giống:

- Vật liệu gieo trồng ví dụ hạt giống có thể là nguồn ô nhiễm các mối nguy hóa học và sinh học.

- Ô nhiễm hóa chất thường là do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không cho phép trong quá trình sản xuất và xử lý hạt giống.

- Ô nhiễm sinh học có khả năng mang nguy cơ cao khi sản xuất rau quả. Trong quá trình sản xuất, bảo quản và vận chuyển giống cây trồng, cần tuân thủ đầy đủ các biện pháp đảm bảo vệ sinh. Ví dụ, phải bảo quản hạt giống trong thùng kín, có che chắn để ngăn các lòai sinh vật gây hại. 

Những yêu cầu của EUREPGAP về giống

3.1. Sự lựa chọn giống cây trồng.

Các kỹ thuật trồng trọt và đặc tính nhận được từ “thế hệ bố mẹ” có thể giảm thiểu các đầu vào như các sản phẩm bảo vệ thực vật và phân bón trên cây trồng đã đăng ký.(ĐN)

Có đủ tài liệu văn bản theo yêu cầu chứng minh rằng các giống trồng thoả mãn các điều luật trong nước và đạt được các yêu cầu giá trị của nó. (TY)

3.2. Chất lượng của hạt giống/ gốc ghép

Các thông tin về giống/giấy chứng nhận về chất lượng hạt giống, tên giống, độ thuần của giống, số lô và tên của nhà phân phối loại giống đó phải được lưu giữ và có sẳn.(TY). 

3.3.  Tính kháng sâu bệnh

Chủ trang trại có thể xác định các giống cây đang trồng có tính kháng hoặc chống chịu được bệnh hại khi các giống đó có mặt trên thị trường.(ĐN). 

3.4 Xử lí giống

Khi xử lý hạt giống hay gốc ghép thì phải có hồi sơ ghi rõ tên của các sản phẩm đã sử dụng và đối tượng sử dụng (loại dịch bệnh).(TY). 

3.5     Các vật liệu cho quá trình nhân giống

Giấy chứng nhận về sức khoẻ cây trồng phải có giá trị đúng với tiêu chuẩn quốc gia hoặc theo sự hướng dẫn của cơ quan quản lý.(TY).

Khi cây có dấu hiệu thiệt hại do sâu bệnh gây hại, việc xử lý phải được đưa ra kịp thời (ví dụ như ngưỡng để xử lý). (ĐN-2004)(CY-2006).

Có đủ tài liệu chứng minh vật liệu giống này phù hợp với mục đích đặt ra, ví dụ: giấy chứng nhận, các ký kết.(TY)

Hệ thống quản lý chất lượng bao gồm cả hệ thống điều khiển giám sát các dấu hiệu nhận biết sâu bệnh phải có sẵn và các hồ sơ lưu trữ hiện tại về hệ thống điều khiển giám sát phải được thực hiện.(TY)

Hồ sơ về việc xử lí những hoá chất bảo vệ thực vật thực hiện trong vườn ươm cây giống trong nhà lưới phải được ghi chép và chúng bao gồm tên hoá chất được xử lý, ngày xử lý và liều lượng đã dùng.(TY). 

3.6. Cây trồng biến đổi gen ( GMO)

Các nông trại hay nhóm các nông trại đã đăng ký có bảng quy định về tính hợp pháp của việc dùng giống cây có biến đổi gen và phải tuân thủ theo quy định đó trừ phi không có giống cây biến đổi gen nào được sử dụng. (CY).

Nếu giống cây trồng và hoặc các sản phẩm có nguồn gốc từ biến đổi gen được sử dụng, hồ sơ ghi chép quá trình trồng, sử dụng hoặc sản xuất các giống cây trồng biến đổi gen phải sẳn sàng khi cần.(TY). 

Những điểm cần lưu ý trong quá trình thực hiện:

 
 
  Xem tốt nhất trên Internet Explorer với độ phân giải 1024 x 768                     

Bản Quyền Thuộc Về Cty TNHH Phố Chợ
239/27 Tân Quý, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh
Tel: (08) 3559 1836 - Fax: (08) 3559 1837
Email: info@niengiamnongnghiep.vn Support: Quang ba website, Support: Cham soc website

© 2007 - 2011. WWW.NIENGIAMNONGNGHIEP.VN
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ website này
Quy định sử dụng  |  Chính sách cá nhân